Bạn đang xem: Nghiên cứu Thư Viện Số (Sách - Ảnh - Video) Tủ sách văn hoá học Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa VN - Trang 2

Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa VN - Trang 2

Email In
Chỉ mục bài viết
Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa VN
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Tất cả các trang

LỜI GIỚI THIỆU

GS. PHẠM ĐỨC DƯƠNG

Chủ tịch Hội Đông Nam Á học VN, Tổng biên tập tạp chí "Việt Nam & Đông Nam Á ngày nay", Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Chúng ta đang ở vào thời điểm bước ngoặt của thời đại với mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại, đan xen giữa hai quá trình của sự phát triển thế giới: đó là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và cuộc cách mạng xã hội. Mọi tín điều cũ đều không còn hoàn toàn phù hợp, mọi cách tiếp cận xưa đều không đủ khả năng cung cấp cho ta chìa khóa vạn năng để đi vào tương lai. Do vậy, nền học vấn hiện đại đòi hỏi phải có kiến thức đồng bộ, tư duy tổng hợp và phương pháp tiếp cận liên ngành trên cơ sở tích hợp các dữ liệu của nhiều khoa học. Văn hóa học đáp ứng được đòi hỏi đó.

Mặt khác, với những thành tựu khoa học và công nghệ kỳ diệu, ngày nay con người đã và đang thực hiện những ước mơ của mình trong việc chinh phục vũ trụ, thám hiểm đại dương... Nhưng cũng kèm theo đó là biết bao hậu quả nghiêm trọng đe dọa cuộc sống con người như nạn ô nhiễm môi trường, thiên tai, bệnh tật... Để lập lại sự cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định và phát triển hài hòa, nhân loại mong muốn xây dựng một môi trường xã hội nhân bản, bền vững, an khang, trong đó văn hóa đóng vai trò vừa là động lực, vừa là hệ điều chỉnh cho sự phát triển kinh tế- xã hội.

Là nhân tố quan trọng trong nền sản xuất tổng hợp, văn hóa như chất keo kết dính các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội... tạo nên hình hài và bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Văn hóa có khả năng bao quát một cách trực tiếp, đảm bảo tính bền vững của xã hội, tính kế thừa của lịch sử và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn. Trong quá trình hội nhập thế giới, trong khi khoa học kỹ thuật càng nhất thể hóa bao nhiêu thì, ngược lại, văn hóa lại càng được khu biệt bấy nhiêu. Như những dòng sông, văn hóa của các dân tộc bền bỉ tích luỹ, thâu nhận, gạn lọc tinh hoa từ muôn dặm nẻo, không ngừng chuyển tải và biến đổi, không ngừng giao lưu và mở rộng để rồi góp phần của riêng mình vào đại dương văn hóa mênh mông của nhân loại.

Nếu như ta hiểu văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội thì mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn hóa của nó. Chả thế mà ngày nay chúng ta có tới mấy trăm định nghĩa về văn hóa, và trong khoa học nhân văn không có một khái niệm nào lại mơ hồ như khái niệm văn hóa. Văn hóa đã tồn tại cùng với quá trình phát triển loài người, nhưng thế giới mới chỉ xây dựng bộ môn văn hóa học từ cuối thế kỷ 19 với nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận, nhiều trường phái khác nhau. Ở Việt Nam, bộ môn văn hóa học cũng chỉ mới hình thành gần đây; trước đó chỉ có những công trình về lịch sử văn hóa, nhưng khá tản mạn, thiếu hệ thống và chưa dựng được bức tranh toàn cảnh về cấu trúc văn hóa trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Khó khăn lớn nhất của bộ môn văn hóa học là việc xác định đối tượng và phương pháp tiếp cận thích hợp.

Tác giả cuốn sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: cái nhìn hệ thống - loại hình mà tôi đang giới thiệu với các bạn - Tiến sĩ khoa học Trần Ngọc Thêm - vốn xuất thân là một nhà ngôn ngữ toán rồi trở thành một chuyên gia ngôn ngữ học nghiên cứu về ngữ pháp - ngữ nghĩa văn bản. Anh có cái nền của tư duy toán học và thế mạnh của phương pháp ngôn ngữ học. Nếu như văn hóa là tổng thể các hệ thống tín hiệu khổng lồ mang tính thiết chế xã hội bao trùm lên mọi hoạt động của cộng đồng người, thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất được xây dựng dựa trên năng lực đặc biệt chỉ có ở hoạt động có ý thức của con người: năng lực biểu trưng hóa (symbolizing). Như vậy, ngôn ngữ vừa là công cụ của tư duy và công cụ giao tiếp chủ yếu, vừa là phương tiện của văn hóa làm tiền đề cho văn hóa phát triển. Mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và các khía cạnh khác của văn hóa gần gũi tới mức không một bộ phận nào thuộc về văn hóa của một cộng đồng người nhất định lại có thể nghiên cứu tách rời khỏi các biểu trưng ngôn ngữ trong hoạt động của chúng. Nhờ xác lập được cho mình một hệ phương pháp tiếp cận rất có hiệu quả, đặc biệt là phương pháp hệ thống - cấu trúc của loại hình học động, ngôn ngữ học đã trở thành một ngành mũi nhọn trong khoa học nhân văn.

Nhờ vận dụng nhuần nhuyễn hệ phương pháp này, tiến sĩ Trần Ngọc Thêm đã hoàn thành được một công trình khảo cứu về văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam không những có thể dùng để biên soạn giáo trình giảng dạy ở bậc đại học đại cương mà còn lần đầu tiên cung cấp cho các nhà nghiên cứu một chuyên khảo toàn diện, có hệ thống. Với gần 700 trang sách đầy ắp các tri thức, các dữ kiện tổng hợp từ rất nhiều công trình đông tây kim cổ thuộc nhiều lĩnh vực văn hóa khác nhau (thư mục chứa trên 400 tên gọi), bằng phương pháp cấu trúc - loại hình, tác giả đã xâu chuỗi các sự kiện thành một bức tranh tổng quan về văn hóa Việt Nam với cách trình bày hết sức mạch lạc, sáng rõ.

Đó là cấu trúc văn hóa với những đặc trưng và chức năng, các loại hình văn hóa (những vấn đề văn hóa học đại cương) để từ đó xác định tọa độ và con đường phát triển của văn hóa Việt Nam. Đi vào các yếu tố văn hóa, tác giả tập trung khảo cứu lĩnh vực văn hóa nhận thức dựa trên cơ sở triết lý âm dương, mô hình tam tài, ngũ hành của phương Nam (trong đó có Việt Nam) và chỉ ra sự khác biệt của chúng với con đường phát triển tư duy phương Bắc (chủ yếu là Trung Hoa) cũng đi từ triết lý âm dương (được gọi là "lưỡng nghi") đến mô hình tứ tượng, bát quái. Về văn hóa tổ chức cộng đồng, tác giả đi vào hai lĩnh vực: đời sống tập thể (với các tổ chức từ nông thôn đến đô thị và quốc gia) và đời sống cá nhân (tín ngưỡng, phong tục, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật ngôn từ - thanh sắc - hình khối). Từ cấu trúc văn hóa nêu trên, tác giả phân tích cách ứng xử của người Việt với môi trường tự nhiên (ăn, mặc, ở, đi lại) và môi trường xã hội (sự giao lưu văn hóa với các giá trị ngoại lai du nhập vào Việt Nam: các tôn giáo, các nền văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, phương Tây...) và sự đối phó, dung hợp văn hóa Đông-Tây.

Tất cả các dữ liệu, các kiến thức rất đa dạng đó đều đã có sẵn và được các học giả đi trước lý giải, nhưng khi chúng được tác giả sắp xếp theo một cấu trúc loại hình, được so sánh đối chiếu trong không gian và thời gian theo những quan hệ mới thì chúng lại đem đến cho ta những thông tin và những ý nghĩa mới, những phát hiện lý thú và đôi lúc bất ngờ! Đây là một cách tiếp cận rất khoa học và cũng rất thông minh. Dù đồng tình hay phản bác, dù còn có thể gặp những sai sót nhỏ (mà trong một công trình lớn thế này thật khó tránh khỏi), người đọc vẫn phải thừa nhận tính nhất quán, chặt chẽ và lôgic trong cách lập luận của tác giả. Giá trị của công trình còn ở chỗ nó được trình bày với một văn phong trong sáng và một hệ thống bảng biểu tổng hợp làm nổi bật bộ khung phân tích và tập hợp được một khối lượng tư liệu khổng lồ của các nền văn hóa Đông-Tây, Nam-Bắc, giúp cho người đọc nhận diện được bản sắc văn hóa Việt Nam.

Không phải ngẫu nhiên mà trên cơ sở công trình này cùng những công trình khác của tác giả về văn hóa học và ngôn ngữ học, vào đầu tháng 10 năm 1999 vừa qua, Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm đã được bầu làm Thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm Khoa học Tự nhiên Nga.

Trong mấy năm gần đây, tôi có tham gia giảng dạy bộ môn văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam ở một số trường đại học, tôi đã sử dụng công trình này như một tài liệu tham khảo chủ yếu. Tôi rất cảm ơn Tiến sĩ - Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã dành cho tôi vinh dự được giới thiệu công trình của anh với bạn đọc. Tôi hy vọng các bạn sẽ tìm thấy ở đây nhiều điều bổ ích và lý thú.


P. Đ. D.